LƯỠNG HIỆN
Về khái niệm, Lưỡng hiện chỉ trường hợp trong quẻ hai Dụng thần. Một quẻ có ít nhất một cặp như vậy, vì luôn có hai Thổ trong một quẻ bởi các sắp địa chi.
Ví dụ:
CÀN VI THIÊN
— Phụ Mẫu Tuất Thổ (Thế)
— Huynh Đệ Thân Kim
— Quan Quỷ Ngọ Hỏa
— Phụ Mẫu Thìn Thổ (Ứng)
— Thê Tài Dần Mộc
— Tử Tôn Tý Thủy
Tại quẻ này, Phụ Lưỡng hiện tại Tuất và Thìn. Giống như các quẻ khác, không tự nhiên mà Dụng Lưỡng hiện. Một quẻ, thực ra sẽ báo rất nhiều dữ kiện hơn việc có/không, đúng/sai, ứng kỳ. Trong đoạn trước kia, phải luôn tránh mọi người để ý đến việc Bội hóa thông tin khi xem quẻ cho đến khi tất cả Khái niệm bước 1 của Lục hào được mình Bạch Hóa, đến đây, xem đến đoạn 2, đó là những thông tin thêm trong quẻ gồm những gì.
Luôn có lý do cho việc động nhiều, hay ít, hay lưỡng hiện, hay Phục, hoặc hóa Không, hay Không, Phá hoặc Xung. Nếu chỉ đơn thuần là báo kết quả đường thẳng, chỉ cần quẻ an tĩnh, với Dụng Vượng/Suy, quan hệ Thế/Dụng mà biết, cần gì hơn. Quẻ càng nhiều vấn đề, tức bản thân sự kiện càng nhiều vấn đề.
Về nguyên tắc, sẽ ưu tiên như sau trong quẻ Dụng lưỡng hiện:
– Hào Động
– Hào Thế
– Hào Hợp Thế
– Sau đấy mới đến hào thông thường
Với hào Động hay Thế, hay hợp Thế (Ví dụ: Quẻ Bĩ với Phụ Dụng), việc xem cứ như quẻ thông thường đơn hiện. Còn với trường hợp hào Dụng không động hay trì Thế, việc lấy Vượng/Suy sẽ tại hào không bị Không/Phá, nhưng Ứng kỳ lại tại hào bị Không/Phá.
Ví dụ:
Tháng Tuất, ngày Giáp Dần:
THIÊN SƠN ĐỘN
— Phụ Mẫu Tuất Thổ
— Huynh Đệ Thân Kim (Ứng)
— Quan Quỷ Ngọ Hỏa
— Huynh Đệ Thân Kim
– – Quan Quỷ Ngọ Hỏa (Thế)
– – Phụ Mẫu Thìn Thổ
Nếu lấy Phụ làm Dụng, cụ thể hơn là việc Giấy tờ, thì Phụ Mẫu Tuất Thổ lâm Nguyệt nên tính Phụ vượng là việc thành, hào Phụ mẫu Thìn Thổ Nguyệt Phá sẽ tính thời điểm Ứng kỳ của sự kiện, tức lúc việc giấy tờ thành, tức tháng Thìn/Dậu, hoặc năm Thìn/Dậu.
Về mặt luận giải cơ bản là như vậy, tức chỉ xoay quanh có/không, lúc nào. Nhưng về mặt bổ trợ thông tin thì việc Lưỡng hiện khác với việc Phụ Thìn động, dù đều cùng báo việc thành và thành tại cùng chi Thìn/Dậu.
Cái khác đầu tiên, là thời điểm Ứng kỳ:
Với hào Lưỡng hiện thông thường không bị Không/Phá, thì sẽ xảy ra 4 điểm Ứng kỳ, thì lại như quy tắc, hiện tại gần đâu hơn sẽ lấy đó là chuẩn tính theo chiều thuận mà lấy, Ví dụ ngày Dần, Có 4 điểm Ứng kỳ là: Thìn Tuất Sửu Mùi, thì Dần gần với Thìn nhất theo chiều thuận kim đồng hồ, nên Ứng kỳ sự kiện tại Thìn.
Thời điểm Ứng kỳ của hào Phá mà động có thể ứng vào giờ hoặc ngày/tháng/năm, còn Nguyệt Phá sẽ ứng trong tháng hoặc năm
Khác thứ hai: Là khi hào bị Nhật hoặc Nguyệt xung mà không được hợp, là việc hỏi về kết quả vẫn như luận thông thường, nhưng đường đi sẽ bị chẻ nhỏ, nếu Tiền là tiền lẻ dù tổng lại như số kỳ vọng, nếu Giấy tờ là nhiều công đoạn cho đến cuối
Khác thứ ba: Là Lưỡng hiện báo các tính chất của vấn đề:
Lưỡng hiện, tuy cùng hành, nhưng chắc chắn khác Lục Thần, hay gọi là Lục Thú.
Nếu là người, sẽ là người với nhiều đặc điểm tính cách, nhưng không đồng thời, nghĩa là lúc này sẽ này, lúc kia sẽ kia, ví dụ: Hỏi về Chồng mà Quan lâm Thanh Long và Phi Xà, thì người có vấn đề khúc mắc về tâm lý, từng có giai đoạn trầm cảm trong cuộc đời, và hiện tại đang stress, ăn không ngon, mơ linh tinh, nhưng với bên ngoài là người vui vẻ, quảng giao, nếu gia thêm Âm/Dương sẽ biết thêm đây là người quyết đoán ở đâu mà yếu đuối ở đâu….
Nếu là việc, thì báo thêm thông tin về sự việc đó, như Tiền: Là báo có 2 nguồn tiền, nếu là Chu Tước và Phi Xà, thì một nguồn do nói mà có, một nguồn tiền bẩn/mờ ám….
Nếu Một hỏng, một dùng được, là một trong hai dùng được, cái còn lại hỏng, về người thì với tính cách nào bị hỏng, là lúc thể hiện người đấy phải cố gắng, nhưng trong lòng chẳng vui, suy quá thì mệt…
Phải luôn lưu ý hai nguyên tắc cơ bản của Dịch:
Không động, không xét nếu không phải Dụng thần
Các hào động, hay các thông tin bổ trợ trong một số quẻ đặc biệt, chỉ tính là các vệ tinh xung quanh hào biến mà xét ra. Ví dụ: Tiết thần là bị cuốn theo, Nguyên thần là trợ giúp. Nếu Nguyên thần khắc Thế là tượng người giúp mình việc này sẽ hại mình trong tương lai, Lưu ý mà xét tránh việc nhầm lẫn.
Về Vệ tinh, nhắc lại bài cũ:
CÁC VỆ TINH QUANH DỤNG
Một trong các sai lầm cơ bản nhất trong Dịch là xem đa Dụng. Thật ra đa Dụng cũng có, nhưng chỉ trong một số trường hợp cá biệt trong phạm vi rộng, hoặc đa Dụng được dùng trong việc xét quẻ. Một phương trình chỉ có nghiệm khi số biến nhỏ hơn hoặc bằng số phương trình, cấp 2 ai cũng từng học thế. Ví dụ:
Hỏi về công danh hiện tại được Thiên Lôi Vô Vọng thì biết người hỏi là người ở vị trí thường xuyên giao tiếp cùng sếp vì Thế nằm hào 4, cận hào 5, hào 5 trong quẻ hỏi công danh chung đa phần biểu thị cho sếp, theo quan niệm Cửu ngũ chí tôn, nhưng không phải luôn thế, vì trong các quẻ thuần hoặc các quẻ Lục Hợp sẽ không tính thế, vì quẻ thuần Thế luôn hào 6 mà lục hợp Thế luôn hào 1, khi đó quẻ Thuần chỉ báo việc không trôi, làm không lâu, và nếu muốn làm làm thêm thì xét các yếu tố vệ tinh mà chống đỡ, còn quẻ Lục hợp Thế tại hào 1, chỉ báo sự ưu thích của người hỏi đối với công việc, còn năng lực hay như nào trong tất cả vẫn phải xem Dụng Thế vượng suy. Vì sao xét đa Dụng, vì khi đấy các hào động và tĩnh trong quẻ sẽ cho ta biết thêm các thông tin khác ví dụ như quẻ trên, Thế khắc hào 5 thì bản thân người này không vừa ý sếp, Thế sinh hào 3, bản thân mình đang tin tưởng trợ lý….. Nếu hào 5 lâm Tử động sẽ báo sếp muốn truất mình, hào 5 tại Huynh nếu động biết sếp gián tiếp làm mình hết vui…. Hay như xét nhà, xem mộ…. Đấy là những trường hợp có thể xem đa Dụng giai đoạn đầu, nhưng tựu chung cuối cùng vẫn phải gom về Thế Dụng, tối đa thêm Ứng.
Về các vệ tinh của Dụng, lưu ý rằng Dụng cùng bốn vệ tinh theo lí đều công bằng với nhau, nghĩa đều chịu sự sinh khắc của Nhật Nguyệt cùng các yếu tố ảnh hưởng khác, không có sự ưu tiên nào, và trừ Dụng, các vệ tinh đều chỉ được tính khi động hay ám động, bao gồm:
– Nguyên thần: Sinh cho Dụng, nếu vượng thì sinh được, nhưng cá biệt Dụng bị cả Nhật Nguyệt khắc, sẽ không sinh được, lúc đấy ứng kỳ của sự khắc sẽ tại thời điểm xung hào Nguyên thân. Ngoài ra tuổi thọ, Nguyên động sẽ báo việc người được hỏi mất vào năm xung Nguyên. Trong các quẻ về bệnh tật sức khỏe, Nguyên Mộ hay Nguyên Hợp đều rất nguy hiểm, khi đấy cần mau mau bổ trợ cho chính Dụng mà may ra thoát được. Nếu suy thì không sinh Dụng được (Hưu vẫn được), nhưng nếu Dụng vượng thì không vấn đề, khi đó báo việc các nguồn lực hỗ trợ không tác dụng mấy, nhưng tự lực cánh sinh được, không sao, tại đây lại lưu ý tình huống Nguyên hưu cùng Dụng động, khi đấy vẫn như trên, vì Dụng động tiết khí của Nguyên. Còn trong các việc biên độ rộng như công danh, yêu đương hay kinh doanh, Nguyên Mộ hay Không hay Phá đều báo việc sẽ có sự hỗ trợ vào thời điểm tương ứng cho các vấn đề, ví như từng có quẻ hỏi tình duyên, cơ mà Nguyên mộ, cưới lúc xung Nguyên, nhưng nếu Dụng mộ, thì lúc xung mộ lại cưới người khác, lưu ý thế.
– Kỵ thần: Kỵ thần là thần khắc Dụng thần, vẫn chỉ khi động mới tính, hoặc nếu tính khi tĩnh vẫn theo nguyên tắc đa Dụng nói trên, và vẫn vượng mới xài được, hưu thì chờ vượng, quá vượng thì chờ mộ, hóa tiến luôn xài được. Hầu như Kỵ vượng đều nguy, duy có trường hợp có thể lưu động về mặt thời gian có thể thoát khỏi ảnh hưởng của Kỵ. Ví dụ hỏi đi xa, Kỵ động thì lựa lúc xung Kỵ mà đi, nhưng lưu ý Thế cũng phải vượng, nếu Thế suy bản thân mình cũng chưa sẵn sàng, không phải lúc nào cơ hội cũng đến lần 2, mọi sự khởi đầu nên hoàn hảo, ít nhất là đối với mình, rồi hẵng chơi, chơi vội, dù thành cũng do may mắn, mà cuộc đời, không ai sống mãi bằng may mắn cả, trừ Thần bài Châu Tinh Trì. Kỵ suy thì kẻ hại mình không làm được, nhưng nếu hóa Khắc lại chuyện khác. Nếu Dụng vượng mà hóa Kỵ suy, thì hiện tại lúc vượng chưa vấn đề, nhưng thời Kỵ lâm, việc hại sẽ xảy ra. Xưa có quẻ người hỏi bệnh cho cha vào mùa hè, Phụ Tỵ hóa Tý, người cha hết bệnh sau đấy, nhưng chết vào mùa đông. Nghĩa là nếu không có sự can thiệp hợp lý, hóa khắc là mất. Lục thần đều chịu sự ảnh hưởng này. Trường hợp về Kỵ tĩnh, có thể tính tới việc hai người, tức xết đến quan hệ Thế Ứng, nếu Ứng lâm Kỵ, thì người hứa mình cũng vô dụng. Ví dụ hỏi mượn tiền, Kỵ lâm Ứng, hỏng, hứa cho vui, nếu lâm thêm không thì gọi điện chẳng bao giờ bắt máy. Nhưng nếu Ứng mộ lúc này, trước lúc xung mộ mà tương ứng Dụng, hỏi mượn sẽ thành. Sự tác động đến quẻ có thể bao gồm hành vi như lựa thời điểm di chuyển, tránh “bão”, hay can thiệp duy tâm như sử dụng cá vật dụng tương ứng thông quan hay bổ, tùy trường hợp, lưu ý thế, đừng bừa.
– Cừu thần: Về khái niệm, Cừu thần là thần khắc Nguyên thần và Dụng thần sẽ khắc Cừu thần.
Cây cần nước để sống, Cừu thần như cái đập ngăn nguồn nước ấy. Trong một số trường hợp đủ nghiêm trọng, Cừu động đồng nghĩa với nguy hiểm tính mạng.
Ví dụ, Ngày Canh Dần tháng Tý, cháu hỏi cô đang bệnh có ổn không? Ra quẻ Hằng hoá Thăng:
Nếu xem theo phép thông thường, Phụ lâm Nguyệt lại được Nhật hợp ắt trong ngày sẽ đỡ nhưng cuối cùng mất vào ngày Tỵ, chỉ vì Cừu động nên người kiệt dần mà mát, không mất ngay. Ứng vào ngày Tỵ vì Tỵ xung Phụ Hợi.
Tương tự có một ví dụ về một bạn học trò đi trình luận án, cũng ra Cừu động Phụ vượng Thế vượng. Sau rớt vì người giám khảo có tính cách và hình dáng như hào Cừu đấy.
Cừu thần, trong các trường hợp ngoài chuyện giấy tờ thi cử hay chuyện sức khoẻ, thì các trường hợp khác sẽ báo vượng không lâu dài, hoặc gặp cản trở gián tiếp.
Việc Kinh doanh, Cừu động báo sẽ bị mất vào vốn, mất vào vốn, có thể là người làm chung, cũng có thể là hàng hỏng. Thời điểm ứng kỳ tại Cừu thần. Nếu sinh Thế, hợp Thế, hay Thế sinh, là người làm chung hoặc người phụ, cứ xét theo đặc điểm hình dáng cộng thời gian mà đề phòng. Nếu trì Thế, thì mình vừa không giữ được tiền, vừa bị tiền hành.
Công danh: Cừu động báo việc không lâu, Cừu tại hào dưới là cấp dưới mình, sinh hay hợp Thế mà Thế cùng Cừu đều vượng là Tâm phúc của mình hoặc “Tiểu lý tàng đao”, khắc Thế là đối thủ của mình. Cứ theo Cừu thần mà xét thời gian đề phòng.
Việc hôn nhân, Cừu động báo việc đông sàn dị mộng, lúc đấy xét thêm xem Cừu của Thế hay của Dụng, có sinh Thế hay Dụng hay Dụng Thế có sinh không mà biết có con giáp 13 không, hay xem nội ngoại ra sao mà biết nguyên nhân từ nhà hay ngoài ngõ, tuỳ tình huống mà xét.
Vậy trong các trường hợp như vậy, nếu dựa trên quẻ thì làm gì?
– Nếu Dụng trì Thế mà Cừu động, thì bản thân mình cố gắng chủ động mà tính, không chơi trò nước lên thuyền lên, vì nước lên chắc gì thuyền đã lên kịp?
– Cừu trì Thế, thì bản thân mình sai hẳn rồi, tự xét mà đổi thì may ra thoát, còn đâm đầu vào đá cứ ráng chịu
– Cừu sinh Thế, xem lại người chung, hay người ngọt ngào với mình, có thể là vô tình, hoặc hữu ý. Nhưng trước khi chắc chắn, cứ xem đấy là sự vô tình. Lúc đấy phải tự xét mình cùng người đang sai hướng, vì Thế lâm Kỵ
– Cừu khắc Thế, lúc đấy lo mạng mình trước, vì Dịch ưu tiên báo hiệu chuyện gần, mà mạng mình gần nhứt.
– Thế sinh Cừu, tin sai người.
– Tiết thần: Trong các sách Bốc Dịch hiện tại đang khuyết 1 thần trong ngũ thần là Tiết thần. Bơi Tiết thần chỉ dùng trong luận đoán chi tiết sự việc, không dùng trong kết quả nên thường bị bỏ qua. Tiết thần là gì, là cái Dụng thần sinh cho. Giả sử hỏi hôn nhân của Nam mà Quỷ động thì nghĩa là Dụng thần hoá Tiết. Tiết thần mang ý nghĩa về sự vọng. Vơi ví dụ trên, nghĩa là người vợ đang ngoại tình, về kinh doanh Quy động là sự hao hụt, khác Huynh là sự mất do ăn cắp hoặc lừa nhau. Quỷ tại nội động là do bên trong, ngoại là bên ngoài. Hỏi tiền thì nội trong ngoại ngoài đặc điểm như hào Quan. Quan hoá Tài là tượng đầu tư. Quan sinh Thế là tượng có người giúp đỡ, nhưng sự giúp đỡ khiến hao hụt tiền mình. Nếu Quan khắc Thế thì lại tính là hoạ, hoạ gì cứ căn cứ vào hào. Hỏi sức khoẻ mà Tiết động là tượng lo lắng, nếu Dụng thần vượng thì lo lắng nhưng không hại sức khoẻ, Hưu thì lo lắng quá dinh bệnh, nhưng việc khác cứ loại suy.
Trường hợp Dụng thần hưu mà Tiết thần động là tượng bất thành.
Tiết thần khắc Kỵ thần, Tiết động sẽ áp chế được Kỵ động, trường hợp Tiết hưu Kỵ vường đều động, mau mau bổ trợ Tiết thần bằng cách nào đấy tùy trường hợp, như nhờ người giúp thì tăng lực cho người, hoặc tăng thêm ngũ hành, vẫn tùy trường hợp mà dụng, dụng bừa sẽ ăn đạn, cẩn thận. Dịch quan trọng sự thông biến, mọi khái niệm cố định đều nguy hiểm cho người xem. Nhưng dụng thì dụng, nếu Thế Dụng vô căn đành rằng số trời đã định, cố thì cũng như rồng bơi vũng cạn. Để xác quyết Tiết thần thật sự là người hay sự kiện hay .. phải xét đến lục thân và tính chất hào.